visuckhoenguoithan.com

Bài viết 12/2016

Ngày 10-5-1995, Hội nghị an toàn truyền máu được tổ chức tại Sở Y tế, gồm các đại diện các bệnh viện và các cơ sở điều trị ở các quận, huyện của thành phố. Hội nghị đã nghe báo cáo của Trung tâm Truyền máu, thảo luận sôi nổi về tổ chức hệ thống truyền máu:
- Các cơ quan và tổ chức lấy máu: Các ngân hàng máu, các phòng trữ máu.
- Phương cách hoạt động và sự phối hợp với Hội chữ thập đỏ.
- Các nguồn máu: 4 nguồn:
+ Hiến máu tình nguyện (không nhận tiền)
+ Hiến máu lấy tiền
+ Hoàn máu
+ Truyền máu tự thân: Đây là hình thức tạo thêm nguồn máu và cũng là phương thức đảm bảo an toàn nhất.
- Quy định xét nghiệm: Các xét nghiệm bắt buộc trước khi lấy máu:
+ HIV, HBV, HCV (phương pháp Elisa có độ nhạy cao, nên dùng để xét nghiệm HIV).
+ Ký sinh trùng sốt rét bằng phương pháp soi kính hiển vi hay hằng phương pháp QBC, hiện đại hơn,
+ Làm phản ứng giang mai (VDRL hay TPHA).
+ Tìm kháng thể bất thương (tại Trung tâm Truyền máu).
+ Phân loại ABO và Rhesus.
+ Định lượng huyết sắc tố hoặc Hematocrile (ứng dung tích hồng cầu).
+ Quy định xét nghiệm trong tình huống khác nhau:
Bình thường: Truyền máu bình thường phải làm tất cả các xét nghiệm. Cuối cùng, khuyên nên làm thêm phản ứng chéo, để đảm bảo an toàn hơn nữa khi sử dụng máu.
Cấp cứu: Tốt nhất là chọn nhóm máu O.
- Nếu xác định chính xác mới truyền máu cùng nhóm.
- Quy định hệ thống số sách:
+ Sổ nhận máu.
+ Sổ truyền máu.
Phải làm sổ nhận máu và sổ truyền máu với mọi chi tiết đầy đủ, để khi có tai biến trong truyền máu, để theo dõi và quy trách nhiệm.
- Quy định hệ thống thông tin, báo cáo: Trung tâm truyền máu là cơ quan đầu ngành, nơi tập trung các thiết bị, kỹ thuật xét nghiệm, đào tạo để đảm bảo an toàn truyền máu.
Hà Lan: Nữ dùng nhiều thuốc an thần
Theo 1 công trình nghiên cứu đăng trên British Medical Journal, tháng 8 năm 1994, các thầy thuốc thường kém nghiêm mặt khi cho toa ben - zodiazepin an thần cho nữ bệnh nhân. Phụ nữ từ 45 đến 64 tuổi được chỉ định ban đầu dùng benzodiazepin 2 lần nhiều hơn nam, mặc dầu không có triệu chứng hoặc chẩn đoán bệnh phải dùng thuốc này. Thật ra trong những tuổi này, ro rệt là nam hơn là nữ, có lý do chính đáng bắt đầu dùng benzodiazepin. Tuy vậy, thầy thuốc thường chẩn đoán ở bệnh nhân nữ các triệu chứng nhức đầu và mệt nhọc như là do bởi các âu lo, stress hoặc mất ngủ và vì vậy đã chỉ định các thuốc an thần. Sự dùng quá nhiều đã được khuyến khích bằng các toa thuốc tái lập (refill) chiếm 89% tổng cộng các toa, của y sĩ phụ tá theo yêu cầu của bệnh nhân mà không có sự tái lượng giá tình trạng bệnh do bác sĩ điều trị. Ngoài ra tuy các nghiên cứu đã khuyến cáo chỉ dùng ngắn ngày ben - zodiazepin, nhưng có đến ⅓ số bệnh nhân đã được chỉ định thuốc trong chế độ điều trị dài ngày.
Thanh Tường - Thuốc và Sức khỏe - Số 45 (1-6-1995)
Các bác sĩ phẫu thuật, cũng như các bác sĩ điều trị các bệnh nhân bị chấn thương sau phẫu thuật nên biết rằng say rượu làm gia tăng khả năng nhiễm trùng sau chấn thương. Một nghiên cứu trên 179 bệnh nhân bị chấn thương xuyên bụng, say rượu được xem là 1 trong những yếu tố có nguy cơ gây nhiễm trùng nhất. Hậu quả của 1 lượng rượu vào máu ở mức bằng hoặc hơn 200 mg/100ml máu thì tốc độ nhiễm trùng sau chấn thương đã vượt trội hẳn, gần bằng hậu quả của việc truyền 1 khối lượng lớn dịch truyền thay cho lượng máu đã mất hoặc bị tổn thương ở kết tràng. Tốc độ nhiễm trùng gia tăng nếu có sự hiện diện của vi khuẩn trong máu và khi lượng máu được nâng lên. Sự gia tăng này độc lập với những yếu tố rủi ro khác như: chỉ số của chấn thương xuyên bụng, nhu cầu truyền máu trong 24 giờ và sự hiện diện của những tổn thương ở kết tràng. Chắc chắn rằng mức độ nhiễm trùng từ việc uổng rượu gần lúc bị tai nạn dễ hơn so với những người nghiện rượu mãn tính, các chuyên gia đã nghiên cứu về sự nhiễm trùng tại bệnh viện thấy rằng có sự gia tăng trong suốt thời gian nằm viện. Họ không tìm thấy sự gia tăng tỷ lệ nhiễm trùng của những bệnh nhân ở bệnh viện, trong khi nhóm khác có mức rượu trong máu bằng hoặc hơn 200mg/100ml thì sự nhiễm trùng tăng lên 2,6 lần. Người ta biết rõ rằng, những người nghiện rượu mãn tính thì bị suy giảm khả năng đề kháng như: giảm bạch cầu trung tính, suy yếu chức năng tế bào lymphô, làm giảm khả năng hoạt động của những tế bào giết tự nhiên và làm rối loạn miễn dịch thể dịch. Điều không được biết nhiều đến là sự say rượu có thể cũng phá vỡ 1 số cơ chế phòng vệ của ký chủ. Ở những người bị say rượu nặng, thì hóa ứng động của bạch cầu trung tính thay đổi (thiếu nhanh nhạy trong cơ chế phòng dịch). Say rượu nặng cũng làm giảm sự thanh thải của phổi đối với các vi khuẩn hiếu khí và các vi khuẩn ở phúc mạc bởi sự thực bào.
Điều trị và phòng bệnh
Việc kiểm tra lượng rượu trong máu của nạn nhân bị chấn thương nên được tiến hành bất cứ lúc nào. Đối với bệnh nhân bị say rượu, thuốc kháng sinh được chỉ định chống nhiễm trùng nên được theo dõi chặt chẽ thường xuyên. Thông thường sau giải phẫu tổn thương cạn, vết thương được khâu nếu không bị nhiễm trùng, nhưng ở những bệnh nhân bị say rượu có lẽ nên để hở vết thương trong vòng 4 - 5 ngày. Trong suốt thời gian sau khi mổ, y tá và điều dưỡng chăm sóc bệnh nhân cũng nên lưu ý rằng bệnh nhân đang có nguy cơ nhiễm bệnh cao. Khi những bệnh nhân bị say rượu thì nguy cơ biến chứng cao hơn, viện phí của họ rõ ràng tăng, họ có nguy cơ rủi ro cao cũng giống như trở lại trung tâm chấn thương với những vết thương cũ. Điều trị chứng nghiện rượu cho những bệnh nhân say trong suốt thời gian hồi phục để đề phòng sự tái phát các nguy cơ đã được đề cập trên.
DS. Hải Dung - Thuốc và Sức khỏe - Số 45 (1-6-1995)
Diệt mối tại nhà là một trong những điều cần thiết ở mỗi gia đình và các bạn cũng cần phải chuẩn bị thật tốt những trang thiết bị cho bản thân và gia đình. Bởi vì thời thiết khí hậu ẩm thấp ở đất nước ta là một trong những nguyên nhân chính gây ra các tình trạng đồ gỗ, móng nhà bị mối tấn công là rất cao.
 
Khi các bạn phát hiện được các tổ mối mới bắt đầu hình thành khi còn nhỏ thì các bạn cũng có thể tự diệt mối tận gốc tại nhà bằng 1 số biện pháp đơn giản. Bên cạnh đó nếu như xuất hiện một số lượng mối lớn, có rất nhiều tổ xuất hiện trong nhà bạn, thì bạn cần phải gọi dịch vụ diệt mối tận nhà về và xoá sổ cho nhanh gọn và an toàn.
 
Một số kỹ thuật công nghệ diệt mối đơn giản dễ làm tại nhà
 
Chú ý: Một số cách diệt mối dưới đây không thể diệt được tận gốc, tuy nhiên nếu làm nó lâu dài cũng có thể hạn chế được rất nhiều các mối thợ gây hỏng hóc đồ dùng trong nhà.
 
Cách 1: Sử dụng nước tẩy toilet để diệt mối
 
Khi các nhà mới vừa xây dựng nhà xong, là móng mới nhưng có lẽ do lúc đổ đất làm cho móng đã hốt luôn một lượng mối ở đâu đó về, và thế là nó sẽ tấn công lên nền nhà, đục rãnh ở góc gạch bông và leo lên làm mình hết sức khó chịu, sau lúc đổ nước thì mối sẽ ở yên được 1 thời gian nhưng sau chậm triển đó chúng lại mò lên tiếp.
 
Các bạn hãy dùng chai nước rửa tolet đùng xi lanh bơm tiêm thẳng vào đó, như vậy mối sẽ không còn xuất hiện nữa.
 
Cách 2: Sử dụng dầu hỏa để xua đuổi mối đi chỗ khác
 
khi các bạn tìm thấy các ổ mối ở đâu đó trong ngôi nhà của bạn, thì các bạn hãy tìm mua ít dầu hỏa về rồi tẩm bông vẩy vào chỗ có mối hoặc dùng kim bơm thẳng vào lỗ mối, chúng sẽ chết ngạt hoặc ngửi thấy mùi hôi của dầu hỏa mà chung sẽ di  chuyên đi đến phá nhà khác.
 
Lưu ý: Dầu hỏa tương đối là hôi nên chỉ sử dụng ở nơi nào thoáng gió giảm thiểu sử dụng trong phòng kín hoặc các nơi có thể dễ bén lửa.
 
Cách 3: Tìm thuốc mối về diệt
 
Để đảm bảo được sự an toàn cho ngôi nhà của bạn, các bạn nên sử dụng thuốc diệt mối sinh vật học. Bạn cũng có thể tìm được cho mình một số chế phẩm sinh vật học diệt mối để mua, cùng lúc mua kèm những hộp nhử mối hoặc sử dụng các bìa cát tông ẩm cũng được.
 
Quy trình diệt mối bằng thuốc sinh học tương đối đơn giản: Bạn tẩm thuốc vào những tấm gỗ nhử mối hoặc bìa cát tông rồi để ở nơi đường đi của mối hoặc chỗ mối phá phách, mối thợ sau lúc nhiễm thuốc vi sinh sẽ quay trở về tổ và lây bệnh cho con mối chúa của tổ, khi mối chúa chết đi, thì tất cả các đàn mối sau khi chết sẽ không còn sinh sôi thêm nữa. Vậy là các bạn đã diệt mối tận gốc tại nhà.

Xem thêm: http://pest-control.vn/diet-moi-tai-ha-noi-vua-re-vua-chuyen-nghiep.html
                    http://www.namdulichvietnam.com/cach-phan-biet-cac-loai-moi-va-diet-moi-tan-goc/
 
Sức khỏe cho mọi người, từ nay đến năm 2000
Sức khỏe cho mọi người và mọi người vì sức khỏe, là chiến lược toàn cầu về sức khỏe đến năm 2000 của Tổ chức Y tế thế giới (OMS - WHO), được khẳng định trong “Tuyên ngôn Alma-Ata” công bố ngày 6-9-1978. Sức khỏe không còn là độc quyền của 1 nhóm nhỏ các nhà chuyên môn, nó phải là công việc của mọi người và mọi người phải được hiểu biết nhiều hơn về các nguyên nhân gây bệnh tật, để tự mình chăm lo sức khỏe bản thân và sức khỏe cộng đồng. Mô hình bệnh tật thay đổi: tim mạch, ung thư và tai nạn giao thông trở thành những nguyên nhân tử vong lớn nhất. Đối thủ chính không còn là vi khuẩn mà là thuốc lá, rượu, ăn uống quá mức, lạm dụng thuốc men, sinh hoạt sinh lý cuồng loạn là những phim kích động trên truyền hình… trận đánh vì sức khỏe phải có những tầm cỡ mới. Thời kỳ này là thời kỳ những cuộc vận động lớn để có nếp sống lành mạnh, ăn uống điều độ, tập thể dục, bỏ thuốc lá…. Hàng triệu trẻ em bị tiêu chảy đã được cứu sống nhờ gói Oresol hoặc đơn giản chỉ dùng muối và đường, bệnh bại liệt có thể bị tiêu diệt nhờ tiêm chủng mở rộng…. Nhưng kẻ thù sức khỏe thì thiên biến vạn hóa, nó còn là ma túy, thuốc trừ sâu, phân hóa học, khí và chất thải công nghiệp, lỗ thủng ozon, virus HIV và sau nó biết đâu còn những virus đột biến sinh ra các bệnh bí hiểm khác? Nhiều khi, đó cũng là lỗi của thầy thuốc, của những nhà sản xuất thuốc, mỹ phẩm, thức ăn chế biến, của những kiến trúc sư và trang trí nội thất, lỗi của việc áp dụng những công nghệ mới mà không lường trước được hậu quả, lỗi của việc chỉ nghĩ đến hiệu quả kinh tế thuần túy, chưa lấy chất lượng cuộc sống làm thước đo.
Góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống
Hai năm nay, WHO đã bắt đầu nghiên cứu và ban hành 1 số chỉ tiêu và phương pháp xác định hiệu quả của các hoạt động y tế đối với chất lượng cuộc sống. Sau thời kỳ say sưa chạy theo những kỹ thuật mới tân kỳ và đắt tiền, không phải là các nước nghèo mà chính là các nước giàu nhất như Anh, Mỹ, Pháp đều nhận thấy rằng ngân sách nhà nước và bảo hiểm xã hội không còn sức chịu đựng nếu cứ theo cái đà này mãi. Chi phí y tế tăng vọt mà không mang lại 1 sự cải thiện đáng kể nào trong công tác bảo vệ sức khỏe. Lạm dụng thuốc không những không chấm dứt được bệnh tật mà lại phát sinh ra nhiều bệnh mới. Người bệnh được theo dõi, chăm sóc bằng những máy móc tự động lại lâu khỏi bệnh hơn là khi được ân cần thăm hỏi như trước đây.
Bệnh nhân đi khám bệnh ở các phòng khám đa khoa hiện đại chẳng khác nào 1 cục sắt được đập rèn, cưa khoan, mài dũa qua các công đoạn trên 1 băng truyền tự động. Trong sinh hoạt hàng ngày cũng vậy, ta có cảm tưởng không còn được sống cuộc sống của mình nữa. Người ta hô hào đi bơm silicon để căng ngực, căng da, rồi ít lâu sau lại cảnh cáo là silicon độc, ai trót dại nghe theo thì đành chịu. 
Hoàng  n - Thuốc và Sức khỏe - Số 48(15-7-1995)
Ngoài tác dụng trị bệnh, phòng bệnh hay chẩn đoán, bất cứ thuốc nào cũng có khả năng gây tai biến. Một kinh nghiệm rất đỗi đau thương là vào đầu những năm 1960, hàng chục ngàn phụ nữ châu  u đã sinh ra quái thai (thai nhi được sinh ra bị cụt chi giống như con hải báo) do trong 3 tháng đầu của thai kỳ đã sử dụng 1 loại thuốc an thần có tên THALIDOMIDE. Khi ấy, người ta chưa đặt nặng vấn đề nghiên cứu xem 1 thứ thuốc đem ra sử dụng có tác dụng gây quái thai hay không (chỉ sau sự kiện bi đát người ta mới quan tâm nhiều đến vấn đề này). Nhưng có những thuốc sau hàng chục năm trời chứng tỏ an toàn trong sử dụng người ta mới phát hiện khả năng gây tai biến rất nguy hiểm của chúng. Như thuốc PYRAMIDON phải sau 30 năm sử dụng làm thuốc giảm đau hạ nhiệt (khi đó thông dụng giống như PARACEETAMOL đang được dùng hiện nay) mới được phát hiện là có tác dụng gây tai biến làm giảm bạch cầu, mất bạch cầu hạt. Và thuốc này từ lâu không còn được sử dụng. Hay như mới gần đây, vào năm 1992, thuốc giảm đau rất tốt là GLAFENINE (biệt dược: Glifanan, Privadol) đã bị cấm lưu hành vì được phát hiện gây tai biến dị ứng rất nặng. Chính vì khả năng gây tai biến luôn luôn đi kèm với tác dụng điều trị mà hiện nay 1 thuốc mới muốn được tung ra thị trường phải trải qua quá trình nghiên cứu rất kỹ lưỡng trong thời gian dài. Phải mất từ 5 đến 10 năm để nghiên cứu 1 chất gọi là thuốc mới ở nhiều giai đoạn: Thử nghiệm tính chất lý hóa và dạng bào chế, thử nghiệm dược lý thực nghiệm trên súc vật, sau khi thử trên súc vật thấy an toàn rồi mới tiến hành thử nghiệm lâm sàng tức thử trên người. Riêng giai đoạn thử nghiệm lâm sàng còn chia ra làm nhiều giai đoạn nhỏ hơn: bắt đầu thử trên những người lành mạnh tình nguyện ở quy mô nhỏ và quy mô lớn, khi thấy thuốc thực sự an toàn mới thử trên người bệnh ở quy mô nhỏ sau đó ở quy mô lớn (quy mô lớn bao gồm có thể lên đến hàng chục ngàn người). Đến đây, nếu thuốc thực sự chứng tỏ có hiệu quả và an toàn thì thuốc mới được chấp nhận cho lưu hành trong thị trường. Nhưng chưa hết, hiện nay 1 thuốc mới khi được tung ra thị trường vẫn còn trong giai đoạn thử nghiệm gọi là giai đoạn 4 thử nghiệm lâm sàng. Đó là trong nhiều năm, thuốc vẫn được tiếp tục theo dõi xem có thực sự an toàn, không gây tai biến cho người sử dụng thuốc. Trên đây, đề cập đến vấn đề nghiên cứu 1 thuốc mới đang được thực hiện ở các nước tiên tiến. Riêng giai đoạn 4 thử nghiệm lâm sàng thuốc mới, công ty, viện bào chế thuốc đó chịu trách nhiệm tiến trình thử nghiệm là chính. Nhưng mang tính chất bao quát hơn, không phải theo dõi các thuốc mới mà cả những thuốc cũ đang được lưu hành và đặc biệt mang tính chất tham vấn cho các quyết định về mặt pháp luật nhà nước, hiện nay ở nhiều nước, không chỉ các nước tiên tiến mà cả những nước nằm trong khu vực cạnh nước ta, đã hình thành những trung tâm gọi là Trung tâm Cảnh giác thuốc hay Trung tâm theo dõi tác dụng không mong muốn của thuốc gọi tắt là Trung tâm theo dõi ADR (Adverse Drug Reactions). Các trung tâm được tổ chức chặt chẽ, có hệ thống đầu não cấp quốc gia quy tụ các nhà chuyên môn được nổi tiếng, tỏa ra là 1 mạng lưới hữu hiệu đến từng địa phương khu vực để đón nhận thông tin theo dõi các tai biến do thuốc gây ra từ từng bệnh viện, phòng mạch, nhà thuốc. Các bác sĩ điều trị, các dược sĩ phân phối thuốc sẽ ghi trên mẫu báo cáo về thuốc sử dụng những phát hiện ghi nhận được, trong đó việc đánh giá các mức độ của tai biến được chuẩn hóa.
DS. Nguyễn Hữu Đức - Thuốc và Sức khỏe - Số 48(15-7-1995)
Nhờ các trung tâm theo dõi và kiểm soát các tai biến do thuốc 1 cách có hệ thống trong phạm vi quốc gia mình. Không những thế, từ năm 1962, do sự thức tỉnh của thảm họa Thalidomide, WHO (Tổ chức Y tế thế giới) đã hình thành 1 hệ thống giám sát ADR quốc tế chuyên khai thác thông tin từ các trung tâm theo dõi ADR quốc gia. 1 tạp chí thông tin về thuốc của WHO ấn hành thường xuyên thông tin các tai biến về thuốc ghi nhận từ các quốc gia. Vì thế có nhiều vấn đề từ quy mô quốc gia trở nên có tính chất toàn cầu. Đã có nhiều thuốc nhờ có hoạt động của các trung tâm theo dõi ADR mà bị cấm lưu hành hay được nhà sản xuất tự ý rút khỏi thị trường. Trường hợp thuốc GLAFENINE, đã nêu ở trên đầu tiên được trung tâm theo dõi ADR của nước Bỉ báo cáo có đến 100 trường hợp gây tai biến rất nặng, thậm chí tử vong. Sau đó, nhiều nước khác thông báo có những trường hợp tai biến như vậy. Các thông tin được WHO tập hợp và đăng tải cho thấy đến mức độ mà quốc gia của hãng sản xuất Glafenine phải ra quyết định cấm lưu hành. Ở nước ta, tình hình sử dụng thuốc được đánh giá thuộc loại bất hợp lý trần trọng. Vì vậy, việc xuất hiện tai biến do thuốc là không thể tránh khỏi, thậm chí có nhiều trường hợp tử vong do thuốc, nhưng từ trước đến nay việc theo dõi 1 cách có hệ thống đã không được đặt ra. Hơn thế nữa, trong thị trường thuốc có nhiều rối loạn, tai biến còn có thể xảy ra đối với thuốc giả, kém chất lượng hoặc thuốc đã loại ra khỏi danh mục ở các nước khác nhưng vẫn lọt được vào nước ta. Tất cả đều không được ghi nhận 1 cách có tổ chức. Tình hình thực sự đòi hỏi cấp bách có những trung tâm cảnh giác thuốc mà từ lâu các nước khác đã hình thành. Do yêu cầu bức thiết, ở Hà Nội đã bước đầu thành lập 1 trung tâm theo dõi ADR vào tháng 12 năm 1994 do giáo sư Hoàng Tích Huyễn làm chủ nhiệm. Tuy chỉ mới hoạt động trong thời gian rất ngắn và đón nhận các báo cáo chỉ từ 3 bệnh viện lớn ở Hà Nội mà trung tâm này đã thu nhập gần 200 báo cáo về tai biến do thuốc. Các tai biến này được thông tin Dược lâm sàng, 1 chuyên san khoa học - đào tạo do Trường đại học Hà Nội ấn hành, mà việc phổ biến tạp chí không được rộng rãi. Thông tin cho thấy các thuốc gây tai biến đều là thuốc thông dụng. Thuốc gây tai biến nhiều nhất là thuốc loại CORTICOID, kế đó là các loại kháng sinh như AMPICILLIN, PENICILLIN G, BACTRIM. Các loại vitamin như vitamin A, vitamin PP, vitamin C (tiêm tĩnh mạch) cũng gây tại biến. Đối tượng bị tai biến nhiều nhất là trẻ con như dùng vitamin A quá liều, tiêm bắp K - cort (1 loại Cortiecoid) bị teo cơ, nhỏ mũi thuốc Napthazolin bị choáng…. Riêng thành phố Hồ Chí Minh là nơi tập trung số lượng thuốc lưu hành rất lớn từ nhiều nguồn, thị trường thuốc không kiểm soát được hoàn toàn, còn khá lộn xộn, việc sử dụng thuốc còn khá bừa bài, lại chứ có được 1 trung tâm theo dõi các tai biến do thuốc như Hà Nội đang bắt đầu làm. Rõ ràng là đã đến lúc nhà nước, thông qua cơ quan chức năng là Bộ Y tế, phải hỗ trợ cho việc thành lập các trung tâm cảnh giác thuốc, trước mắt là các thành phố lớn, sau đó là mạng lưới đều khắp cả nước mà điều hành là trung tâm cấp quốc gia.
DS. Nguyễn Hữu Đức - Thuốc và Sức khỏe - Số 48(15-7-1995)