visuckhoenguoithan.com

Bài viết 02/2017

Cây bông bụt, còn được gọi là bông bụp, dâm bụp, xuyên cận bì, hồng cận (Hibiscus Rosa - Sinensis Linn) thuộc họ bông (Malvaccae). Đây là cây cảnh thường được trồng thành bụi hoặc trồng thành hàng rào vừa cho rất nhiều hoa đỏ đẹp quanh năm.
- Từ những kinh nghiệm theo y học cổ truyền…
Từ hàng ngàn năm nay, kinh nghiệm dân gian đã biết dùng lá và hoa dâm bụt, giã nát với ít muối để đắp vào vết thương, hay chỗ bầm dập vừa làm giảm đau, vừa chống nhiễm trùng. Đắp vào chỗ mụn nhọt, lở loét cũng giúp mau lành bệnh. Tại Ấn Độ, các bà mụ thường dùng chấy nhầy của bông bụt đắp lên bụng phụ nữ mới đẻ và đồng thời cho họ uống thuốc nước chế từ chất nhầy của lá này. Hoa và vỏ cây dâm bụt sắc uống có tác dụng điều kinh. Các nhà nghiên cứu (Burkill, Heyne) cũng ghi nhận, ở Ấn Độ người ta nghiền hoa dâm bụt với hột đu đủ để làm thuốc phá thai. Theo y văn của Ayurveda (1 trường phái y học cổ truyền Ấn Độ) thì hoa dâm bụt có tính ngừa thai. Mặt khác, trà bông bụt (chế nước sôi vào hoa để uống) có tác dụng dịu ho và những kích ứng ở đường niệu - sinh dục. Người ta cũng tin rằng nước ép từ hoa dâm bụt có tính gây mọc tóc (Nadkarni).
- … Đến những nghiên cứu mới
Gần đây, cây dâm bụt được các nhà nghiên cứu lưu tâm thử nghiệm như 1 thuốc ngừa thai.
Những hoạt chất trong dâm bụt
Từ 1994 Hayashi đã tìm thấy trong hoa dâm bụt có 1 diglucosid (cyanidin). Năm 1971, Batta và Santhakumari đã tìm thấy trong thân và lá dâm bụt có triterpenoid, taraxerol acetat, và beta - sitosterol. Năm 1973, Wahi và cộng sự đã tìm thấy 4 hợp chất chưa xác định rõ cơ cấu (1 alcaloid và 3 sterol).
Tính chất dược lực
Nhiều tài liệu y học cổ truyền Ấn Độ, kể cả của trường phái Ayurveda đều coi hoa dâm bụt như là 1 thuốc ngừa thai. Nhiều tác giả (Kirtikar, Basu, Nadkarni, Chopra, Casey, Chaudhury) đã nêu lên tác dụng chống thụ thai của hoa dâm bụt. Năm 1971, Batta và Santhakumari, năm 1974 Kholkute và Udupa đã chứng minh rằng chất trích từ hoa dâm bụt có tính chống thụ tinh sau giao hợp.
DS. Phan Đức Bình - Thuốc và Sức khỏe - Số 55(1-11-1995)
Ban biên tập xin trình bày nhận định của mình: Chủ ý của tác giả bài viết không nhằm vào những người không ở trong nghề, mà thật sự là muốn gợi ý cho đồng nghiệp đang lo điều trị cho bệnh nhân bởi nói cho cùng, những từ ngắn gọn như “làm sạch vết loét” không phải ai cũng làm được. Thao tác này tuy dễ, nhưng nếu không phải là nhân viên trong ngành được đào tạo đúng bài bản, được học tới nơi tới chốn, thì dễ làm tầy quầy ra, gây bội nhiễm vô cùng nguy hiểm. Ấy là chưa kể đến việc ghép da: nó đòi hỏi 1 cơ sở y tế - 1 bệnh viện - có chuyên khoa mới làm được. Hơn nữa, bệnh nhân lại ở ngoài bắc cho nên gợi ý về thuốc men khó mà cụ thể hơn. Chuyện nêu ra 1 biệt dược kháng histamin chắc chắn không phải là điều khó khăn gì đối với 1 bác sĩ có mấy chục năm trong nghề như bác sĩ Thanh. Nhưng liệu biệt dược đó có bán tại nơi bệnh nhân ở hay không? Hay thân nhân và nhất là bệnh nhân phải lo chạy thuốc: lỡ tìm biệt dược không ra, lại mang cái mặc cảm tâm lý vì thiếu thuốc mà bệnh không lành! Việc dùng kháng sinh lại càng phức tạp hơn. Thân nhân của bạn Lĩnh Ngọc đã từng nhập viện nhiều lần, đã từng được “tiêm kháng sinh liều cao” khiến cho người trong nghề liên tưởng đến các tác nhân gây nhiễm đã lớn 1 số kháng sinh. Việc dùng kháng sinh ở đây cần đến xét nghiệm cận lâm sàng: kháng sinh đồ, 1 thao tác mà không phải phòng thí nghiệm của bất cứ 1 bệnh viện nào cũng làm được. Cho nên chúng tôi thấy lá thư trả lời của bác sĩ Thanh “hay” là vậy. Cái “hay” ở đây là những lời góp ý ấy dễ lọt vào tai các đồng nghiệp. Viết khác đi, viết dài dòng hơn, viết theo kiểu như “lên lớp” không những dễ làm phật lòng sĩ tử mà còn dễ bị coi thường cho nên chả có ai chịu nghe cho đâu! Lễ ra việc trao đổi này ban biên tập nên hội ý với bác sĩ Thanh bởi chúng ta gần gũi nhau mà, thế nhưng chúng tôi đã không làm vậy vì những bài được đăng trên Thuốc và Sức khỏe thì dù hay dù dở, dù đúng dù sai, đều là trách nhiệm của ban biên tập. Riêng với bạn Nguyễn Duy Hương, nếu có những nhận xét, phê bình về những bài đã đăng, xin bạn vui lòng viết cho tòa soạn, bởi Thuốc và Sức khỏe là của tất cả chúng ta: Nếu có bài hay mà các bạn không khen, có bài dở mà các bạn không chê thì làm sao những người làm báo chúng tôi biết đường nào mà lần. Chính nhờ những góp ý cụ thể của tất cả các bạn mà Thuốc và Sức khỏe mới được như ngày nay.
PV - Thuốc và Sức khỏe - Số 55(1-11-1995)
Nếu mắt không lành, bác cho dùng kết hợp bài thuốc của Hải Thượng Lãn Ông kèm theo việc nhỏ collyre chloramphenicol như trước. Tuy nhiên không nên mải mê nghiên cứu mà quên người bệnh. Hãy nhớ cho rằng người bệnh là trên hết. Bài thuốc chữa sỏi tiết niệu và sỏi túi mật, cây Râu Mèo (Orthosiphon aristatus (Bl.) Miq.) có tính lợi tiểu rất tốt, sắc uống thường xuyên mỗi ngày 12 gram khô hoặc 30 gram cảnh, lá tươi có thể làm tan sỏi ở vài trường hợp. Tây y cũng thế từ cây Râu Mèo ra thuốc. Orthosiphon (Urosiphon - Mỹ, hay Betasiphon của XNDP 2-9 - Việt Nam). Thuốc và Sức khỏe cũng đã có bài “Cây Râu Mèo” đăng trong số 20 ở trang 23 giới thiệu tính lợi tiểu của cây thuốc này. Kế đến tòa soạn muốn trao đổi với bạn Nguyễn Duy Hương ở Hải Hưng, nhân vào thành phố công tác, đã đến tòa soạn và nhận xét như vầy: “Trang “Hỏi đáp khoa học” đã viết quá vắn gọn, vắn gọn đến mức khó hiểu”. Chúng tôi xin anh cho biết cụ thể hơn thì anh nêu: “.... *Tại chỗ: săn sóc, làm sạch vết loét, băng kín, ghép da…”. “*Toàn thân: giảm đau, kháng sinh, kháng histamin, vật lý trị liệu, không nên phòng ngừa uốn ván…” được đăng trên Thuốc và Sức khỏe số 54 trang 41. Theo anh, “viết quá hà tiện chữ như vậy thì thật là khó hiểu”. Chúng tôi có đề nghị anh viết cho 1 bài nhận xét, phê bình tờ báo của chúng ta, nhưng cho đến nay, lúc số báo này sắp “lên khuôn”. Tòa soạn vẫn chưa nhận được lá thư đáng mong đợi ấy, đành phải trao đổi với bạn Hương về những nhận xét của bạn mà chúng tôi ghi nhận được. Trước hết, tòa soạn cám ơn bạn đã đọc kỹ Thuốc và Sức khỏe; nếu không, khó mà đưa ra nhận xét cụ thể, thí dụ chính xác được. Thế nhưng, chúng tôi nhận định như vầy: Câu trả lời bạn nêu trên là của bác sĩ Võ Ngọc Thanh, chuyên về da liễu, mà qua rất nhiều thư của đọc giả mỗi lần nhắc đến tên của bác sĩ Thanh. Các bạn ấy cho rằng mục “Hỏi đáp khoa học” được những người có chuyên môn sâu trả lời nên dễ hiểu, rõ ràng, khoa học và có ích. Dù vậy, chúng tôi đều đọc lại toàn bộ câu hỏi của độc giả Nguyễn Lĩnh Ngọc ở quận 10 thành phố Hồ Chí Minh - hỏi về bệnh của 1 “thân nhân, phái nam, 53 tuổi ở ngoài bắc…” cùng câu trả lời của bác sĩ Thanh, và chúng tôi nhận thấy rằng không thể nào viết hay hơn, chính xác hơn bài viết nêu trên của bác sĩ Võ Ngọc Thanh được.
PV - Thuốc và Sức khỏe - Số 55(1-11-1995)
Trang Tòa soạn và bạn đọc kỳ này xin được trao đổi ý kiến với các bạn hoặc đã viết thư, đã trực tiếp trao đổi với các thành viên trong ban biên tập. Trước hết là với bác Trần Vĩnh ở Xuân Lộc. Bác Vĩnh viết cho chúng tôi có đoạn như vậy: “... Tôi năm nay 60 tuổi. Trước hành nghề Tây Y và dạy học. Sau 1975 làm Trưởng trạm y tế 5 năm rồi nghỉ. Mấy năm gần đây, bị gãy cổ xương đùi. chữa lành nhưng đi lại hơi khó khăn, ở nhà nghiêm cứu thêm thuốc bắc, thuốc nam, vì cụ ngoại tôi làm thuốc nên có để lại cho ít sách và kinh nghiệm. “Là độc giả thường xuyên của quý báo. Đọc Thuốc và Sức khỏe số 52, trang “Tòa soạn và bạn đọc” thấy vui mừng, xin chuyển đến những kinh nghiệm qua điều trị cho gia đình, bạn bè đã thấy kết quả: “Cháu tôi 5 tuổi bị mắt đỏ có 1 lát máu ở trong mắt, nhỏ collyre chloramphenicol 3 ngày không bớt; điều trị tiếp “chứng xích nhãn” mắt đỏ của trẻ em của Cụ Hải Thượng Lãn Ông ghi “rất công hiệu”: lấy hoàng liên 1 chỉ (4 gram) tán nhỏ hòa với nước, đắp vào bàn chân trẻ băng lại vào buổi tối trước khi đi ngủ (băng ban ngày, cháu quậy chơi rớt mất, chẳng công hiệu gì) kết hợp với nhỏ thuốc trên 3 ngày thì khỏi: không biết thuốc gì làm khỏi bệnh? “Căn nhà có bà bị sạn thận (đi siêu âm, nằm viện), bác sĩ cho uống thuốc không hết, biểu chuyển viện mổ lấy sỏi, tốn khoảng 2 triệu (nhà nghèo quá, làm sao đi chữa được). Tôi cũng biết sỏi có nhiều thứ như oxalate, phosphate,... Tây y chữa tùy trường hợp. Biết câu Râu Mèo chữa sỏi thận, sỏi túi mật mách giùm kiếm cây Râu Mèo tươi 4 chỉ (16 gram) sắc 2 chén còn lại 8 phân; chia 2, uống làm 2 lần lúc bụng đói: uống liên tiếp 8 ngày, nghỉ 4 ngày, uống tiếp 8 ngày nữa thì khỏi bệnh. Nếu không có cây tươi, mua cây Râu Mèo khô thì chỉ dùng 2 chỉ (8 gram) thôi. “Trên đây là những kinh nghiệm đã chữa lành, mong báo phổ biến để giúp bà con nghèo của mình”. Tòa soạn rất xúc động về nghĩa cử của bác Vĩnh vì bác chịu chia sẻ kinh nghiệm trị bệnh bằng những bài thuốc ít tốn kém cho bà con còn nghèo của chúng ta. Riêng bài thuốc chữa “chứng xích nhãn” của Cụ Hải Thượng Lãn Ông, ban biên tập đề nghị như vậy: Nếu muốn kiểm tra trong 2 cách điều trị - 1 là nhỏ collyre chloramphenicol, 1 là nhỏ kết hợp với bài thuốc chữa của Cụ Hải Thượng Lãn Ông - bác làm như vậy: hễ có cháu nào bị bệnh cảnh tương tự như đứa cháu lên 5 của bác, bác dùng bài thuốc trị chứng xích nhãn của Cụ Hải Thượng Lãn Ông trong 3 ngày đầu: nếu mắt hết đỏ, bác biết bài thuốc của cụ là hay, còn hiệu lực.
PV - Thuốc và Sức khỏe - Số 55(1-11-1995)
Theo 1 điều tra của WHO, từ 60 đến 80% các nhà cao tầng ở Anh, Mỹ, Pháp không đạt tiêu chuẩn về môi sinh, trên 50% người ở trong đó bị bệnh đường hô hấp do hệ thống thông gió bị ô nhiễm bởi nấm mốc, mực photocopy và hóa chất diệt muỗi, khí ion hóa từ màn hình vô tuyến và vi tính, bụi từ màn hút bụi…. Chất lượng cuộc sống ngày càng tồi tệ hơn, hãy tránh làm cho nó tồi tệ hơn nữa. “Mục tiêu của cuộc bảo vệ sức khỏe là góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống, mọi công tác y tế đều phải đối chiếu với mục tiêu đó để đánh giá hiệu quả và điều chỉnh lại phương hướng hoạt động của mình”. Nhiều nước phát triển đang hiệu chỉnh lại mạng lưới y tế theo hướng điều trị tại nhà là chính, giảm chỉ tiêu giường bệnh theo đầu người và rút ngắn thời gian nằm viện. Tập trung kinh phí cho những phòng khám đa khoa và 1 số bệnh viện chuyên khoa với đầy đủ trang thiết bị hiện đại nhất để chuẩn đoán chính xác và can thiệp nhanh chóng những trường hợp khó, sau đó tiếp tục điều trị tại nhà, tăng cường đội ngũ bác sĩ thực hành đa khoa và điều dưỡng viên với trang bị gọn nhẹ để làm nhiệm vụ thầy thuốc gia đình. Ngành dược góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống là nội dung 1 hội thảo khoa học của FAPA (Liên hiệp các hội Được học châu Á), được tổ chức tại Bangkok tháng 11.1994. Một khái niệm mới về ngành dược và vai trò của người dược sĩ được đặt ra trong nội dung được chăm sóc sức khỏe nói chung, bệnh nhân cần được chăm sóc về thuốc men. Người dược sĩ, trước đây lấy thuốc làm đối tượng chính của mình, nay phải hướng chủ yếu vào bệnh nhân. Nhiệm vụ của dược sĩ không phải là cung cấp thuốc, việc đó để cho nhân viên làm và sau này có thể thay thế bằng các robot. Chức năng chính của người dược sĩ là phát hiện những trường hợp kê đơn trừng lắp do đi khám nhiều thầy, chỉ dẫn việc dùng thuốc và theo dõi bệnh nhân dùng đúng chỉ định, đúng bệnh, đúng liều lượng, nắm những phản ứng phụ hoặc tác dụng tương hỗ, tương kỵ của thuốc để hiệu chỉnh kịp thời hoặc chế độ dinh dưỡng, kiêng khem. Mỗi bệnh nhân đến mua thuốc đều phải được người dược sĩ thăm hỏi ân cần, hướng dẫn cách dùng thuốc và ghi lại tất cả những thông tin liên quan đến thuốc và bệnh nhân theo những mẫu biểu đã được quy định cho toàn ngành. Như vậy giữa 2 lần khám bệnh kê đơn của bác sĩ, người duy trì sự chăm sóc liên tục đối với bệnh nhân là dược sĩ. Nhiều khi chỉ cần lời khuyên, bệnh nhân có thể tự mình điều chỉnh khá chính xác cách dùng thuốc thích ứng với tình trạng sức khỏe của mình, kể cả thuốc tim mạch, trị bệnh đái đường… lẽ ra phải xét nghiệm để cho thuốc, tốn rất nhiều thì giờ và tiền bạc. Kinh nghiệm những nơi đã làm thử cho thấy bệnh nhân chóng khỏi hơn, đồng thời nhà thuốc cũng đông khách hơn. Một thuốc mới không phải chỉ thử dược lý lâm sàng để làm hồ sơ xin đăng ký là đủ, nó phải được theo dõi suốt đời, chừng nào còn lưu hành trên thị trường. Người có đủ kiến thức và khả năng thực tế để làm việc này là dược sĩ. Bác sĩ, dược sĩ và bản thân bệnh nhân là 1 bộ 3 không thể tách rời nhau được, hỗ trợ, bổ sung cho nhau trong cuộc đấu tranh vì sức khỏe.
Hoàng  n - Thuốc và Sức khỏe - Số 48(15-7-1995)
Tổ chức Hội nghị khoa học tiêu hóa lần thứ nhất vào ngày 5 và 6-7-1995 tại khoa y trường Đại học Y dược thành phố Hồ Chí Minh với 400 bác sĩ hội viên từ các tỉnh thành trong cả nước về dự. Hội nghị cũng được các chuyên gia về tiêu hóa, dạ dày - ruột của Pháp, Singapore, Thái Lan cùng tham gia báo cáo 1 số đề tài như: chẩn đoán và điều trị rối loạn đại tràng chức năng, các dấu hiệu tiêu hóa của bệnh AIDS, sàng lọc phát hiện ung thư tế bào gan và các tiến bộ trong điều trị, viêm tụy cấp, polype trực tràng, soi thực quản, dạ dày, tá tràng…
Thuốc chặn kênh Calcium hữu hiệu chữa cơn tim do sung huyết
Tại hội nghị thường niên của Hội Tim học Hoa Kỳ ở thành phố New Orleans (bang Louisiana) có công trình cho thấy amlodipine - thuốc chặn kênh calcium - có thể là loại thuốc cứu mạng đối với 1 số bệnh nhân bị cơn tim do sung huyết vì bệnh cơ tim to mà không do thiếu máu cục bộ. Qua công trình lượng giá theo phương pháp ngẫu nhiên, 1.153 bệnh nhân bị cơn tim do sung huyết được chia thành 2 nhóm: mỗi ngày dùng 5 - 10 mg amlodipine (Norvasc. Pfizer) và dùng giả được. Tất cả các bệnh nhân đều dùng phác đồ điều trị hiện hành trong việc điều trị cơn tim do sung huyết với thuốc lợi tiểu, digoxin và 1 loại ức chế men chuyển hóa angiotensin (ACE). Sau khi theo dõi 1 thời gian (trung bình là 14,4 tháng) cho thấy amlodipine không có nguy cơ gây tử vong hay kéo dài thời gian nằm và nhập viện vì cơn tim có khả năng gây tử vong trong số bệnh nhân bị cơn tim do sung huyết vì bệnh động mạch vành. Trong khi đó nhóm bệnh nhân bị cơn đau tim do sung huyết vì bệnh cơ tim to mà không do thiếu máu cục bộ được cho dùng amlodipine bị cơn đau tim dẫn đến tử vong là 31% ít hơn so với nhóm dùng giả được. Còn đối với mọi nguyên nhân tử vong thì nhóm dùng amlodipine là 45% thấp hơn so với nhóm đối tượng. Bác sĩ Alan Wasserman, Trưởng khoa tim học Viện đại học George Washington ở Thủ đô Washington cho rằng: “Nay thì chúng ta đã có loại thuốc an toàn dùng cho tất cả các bệnh nhân suy tim do sung huyết vì bệnh nhân ít bị hiệu ứng phụ lúc dùng amlodipine và nếu có thì các hiệu ứng này cũng nhẹ.
Võ Quỳnh Hưng - Thuốc và Sức khỏe - Số 48(15-7-1995)